bộ sưu tập lọ đồng bộ cho nhà bếp sẽ giúp bạn ghi nhớ và phân biệt các loại ngũ cốc, đồ khô một cách d
bộ sưu tập lọ đồng bộ cho nhà bếp sẽ giúp bạn ghi nhớ và phân biệt các loại ngũ cốc, đồ khô một cách d
mắt kính phân cực (polarized )được sử dụng lâu đời bởi người đi biển do tính năng chống chói, ngăn chặn ánh s
Thong diep cua ban duoc gui de khach hang bang hinh anh an tuong nay.
Xem thêm
Thong diep cua ban duoc gui de khach hang bang hinh anh an tuong nay.
Xem thêm
Thứ năm, 30/06/2005, 14:21 GMT+7
Các thế hệ chip ngày nay của Intel đã khác biệt khá nhiều so với những dòng chip đầu tiên do hãng chế tạo - chẳng hạn như Intel 4004, hoặc Intel 4040 (năm 1971). Khác biệt đó không chỉ ở tốc độ (xung nhịp đồng hồ) mà còn ở nền tảng và công nghệ chế tạo CPU.
Công nghệ vi xử lý 180nm hoặc cũ hơn đang dần lui vào dĩ vãng để nhường bước cho các công nghệ mới hơn như 130nm, 90nm, 65nm, 45nm… Về cơ bản, khả năng xử lý của chip Intel tính cho tới thời điểm hiện nay vẫn tuân thủ theo quy luật Moore – có nghĩa cứ mối 18 tháng, tốc độ tính toán của loại chip mới sẽ tăng lên gấp đôi.<?xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:office" /> Mặc dù loại chip đầu tiên của Intel xuất hiện từ năm 1971, nhưng phải mất nhiều năm sau (đến 1978), bộ vi xử lý này mới được ứng dụng rộng rãi và được nhiều người biết tới. Có một số mốc quan trọng trong lịch sử phát triển chip Intel, đó là: 8086 (1978), i486 (1989), Pentium (1983), Celeron (1998), Pentium IV (2000), và gấn đây nhất là dòng chip “lõi kép”. Tất cả các loại chip của Intel đều là bộ xử lý x86, ngoại trừ một số model như: iAPX 432; i960; Itanium 1 và Itanium 2. Intel 8088 -- 1979 (4MHz) Chúng ta hãy bắt đầu với Intel 8088, chủng loại chip được sử dụng cho những chiếc PC đầu tiên trên thế giới. Intel 8088 là loại chi 16-bit, chạy ở tốc độ 4MHz và chỉ có thể hỗ trợ tối đa tới 1MB RAM.Intel 80286 -- 1982 (6MHz-20MHz)Là loại chip 16-bit có khả năng hỗ trợ tới 16 MB RAM. Intel 80286 có thể tương tác với bộ nhớ ảo và là loại chip “thực” đầu tiên do có khả năng xử lý đồng thời nhiều tác vụ cùng lúc. Tính năng này được ứng dụng cho các hệ điều hành Windows trong tương lai và vẫn mãi là đặc điểm trụ cột của dòng chip Intel. Tốc độ tối đa của Intel 80286 là 6MHz, nhưng một số phiên bản sau này có thể chạy ở tốc độ 20MHz. Intel 386 -- 1988 (12,5MHz - 33MHz)Với Intel 386, lần đầu tiên một chiếc PC mới tỏ ra hữu ích thực sự. Intel 386 là bộ xử lý 32-bit đầu tiên dành cho máy tính cá nhân. Nó có thể tương thích với các loại card 32-bit, và hỗ trợ tối đa tới 4GB bộ nhớ thực và 64TB (terabyte) bộ nhớ ảo. Intel 386 có nhiều phiên bản, với tốc độ dao động trong khoảng từ 12,5MHz tới 33MHz. Intel 486 – 1991 (120MHz)Là thế hệ kế tiếp của dòng chip Intel, 486 mang đến khả năng xử lý cao hơn hẳn so với các loại chip trước đây. Tốc độ của Intel 486 là 120MHz, và hiện nay vẫn được dùng cho một số hệ thống. Pentium Pentium có thể nói là dòng chip đa dạng nhất hiện nay, bởi nó có rất nhiều phiên bản với tốc độ cũng rất khác nhau. Pentium có nhiều đột phá mang tính “cách mạng”, và luôn đi kèm với sự lớn mạnh của Intel trong nhiều năm qua. + Pentium -- 1993-1996 (60MHz-200MHz)Là phiên bản đầu tiên của dòng chip Pentium, Pentium được xây dựng trên công nghệ vi xử lý 350nm với 3,1 (hoặc 3,3) triệu transitor. Pentium có bus hệ thống là 50, 60 và 66MHz; và cache L2 từ 256KB tới 1MB. + Pentium Pro -- 1995-1997 (150MHz-200MHz) Được sử dụng cho dòng máy tính để bàn và máy chủ cao cấp, Pentium Pro tăng khả năng hỗ trợ tối đa bộ nhớ từ 4GB lên 64GB. Pentium Pro có cache L2 từ 512KB - 1MB; sử dụng bus hệ thống 60MHz hoặc 66MHz; chứa 5,5 tới 62 triệu transitor. Pentium Pro được chế tạo trên công nghệ vi xử lý 350nm. + Pentium MMX -- 1997-1999 (233MHz-300MHz) Số lượng transitor của Pentium MMX là 4,5 triệu; được chế tạo trên công nghệ vi xử lý 350nm (đối với phiên bản dành cho máy tính đề bản), và 250nm (đối với phiên bản dành cho thiết bị di động). + Pentium II -- 1997-1999 (233MHz-450MHz) Pentium II có bus hệ thống 66MHz hoặc 100MHz. Các model Pentium II dành cho máy tính để bàn có 7,5 triệu transistor với 512KB cache L2 ; trong khi phiên bản dành cho thiết bị di động có 27,4 triệu transistor với 256KB cache L2. + Pentium II Xeon -- 1998-1999 (400MHz-450MHz) Chủ yếu sử dụng cho dòng máy chủ cao cấp “2-way” và “4-way”, Pentium II Xeon có 100MHz bus hệ thống và cache L2 từ 512KB - 2MB. + Pentium III -- 1999-2001 (500MHz-1,13GHz) Pentium III được công bố trong giai đoạn 1999-2001. Bộ vi xử lý này có bus hệ thống 100MHz hoặc 133MHz; 512KB hoặc 256KB cache L2. Phụ thuộc vào từng model mà Pentium III có từ 9,5 – 28 triệu transitor. Pentium III được sản xuất trên công nghệ vi xử lý 250nm và 180nm. + Pentium III Xeon -- 1999-2001 (500MHz-933MHz) Cũng được công bố trong thời kỳ 1999-2001, Pentium III Xeon chủ yếu được dành cho loại máy chủ từ “2-way” tới “8-way”. Xeon thường có cache tối đa lên tới 2MB. + Pentium 4 -- 2000 (1,4-3,4GHz) Là kiến trúc Pentium mới nhất được giới thiệu từ năm 2000, Pentium IV bắt đầu với 400MHz bus hệ thống và 256KB cache L2 (sau này tăng lên 800MHz và 2MB). Những phiên bản đầu tiên của Pentium IV có 42 triệu transitor, được chế tạo trên công nghệ vi xử lý 180nm. Pentium M Là một phần của nhãn hiệu Centrino dành cho các chủng loại máy tính xách tay, Pentium M hiện đang có 2 phiên bản: “Banias” và “<?xml:namespace prefix = st1 ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:smarttags" />Dothan”. Banias là tên mã của Pentium M được giới thiệu năm 2003 với tốc độ 1,6MHz - tương đương với hiệu suất của Pentium IV “Northwood” 2,4MHz. Trong khi đó, “Dothan” là thế hệ thứ hai của Pentium M, được giới thiệu năm 2004 với nhiều phiên bản: Pentium M 715 (1,5 GHz), 725 (1,6 GHz), 735 (1,7 GHz), 745 (1,8 GHz), 755 (2 GHz), and 765 (2,1 GHz). “Dothan” được chế tạo trên công nghệ vi xử lý 90nm, hỗ trợ chuẩn PCI Express, Serial ATA và Gigabit Ethernet. Pentium D Pentium D là một series gồm nhiều bộ xử lý với phiên bản đầu tiên (tên mã “Smithfield”) được Intel giới thiệu hồi cuối tháng 5/2005 vừa qua. Pentium D sẽ tích hợp 2 chip Pentium IV Prescott trên một tấm silicon đơn (hay còn được gọi với cái tên là “chip lõi kép”). Pentium D là dòng chip “lõi kép” dành cho máy tính để bàn có các tốc độ: 2,8GHz, 3GHz, hoặc 3,2GHz. Dòng chip này không hỗ trợ công nghệ siêu phân luồng (HT), hay ít ra là cũng trong giai đoạn hiện nay. Giá của Pentium D dao động trong khoảng 241-530USD. Pentium Extreme Edition Pentium Extreme Edition (EE)cũng là chip lõi kép nhưng lại được xây dựng trên lõi của “Smithfield” (phiên bản đầu của Pentium D). Pentium EE hỗ trợ công nghệ HT, do vậy sẽ có 4 bộ xử lý logic. Tốc độ của Pentium EE là 3,8GHz, được được bán với giá 1.200USD.(Theo tạp chí XHTT)
Đăng bởi : conghung
